Nhật Ký Công Nghệ Sinh Học


Showing posts with label khoa-hoc. Show all posts

Cây Trúc Đào mang độc tính chết người. Tuy nhiên, khi kết hợp liều lượng thích hợp thì sẽ chữa được nhiều bệnh như bệnh tự nhiên đỏ bừng mặt...


Cây Trúc Đào mang độc tính chết người. Tuy nhiên, khi kết hợp liều lượng thích hợp thì sẽ chữa được nhiều bệnh như bệnh tự nhiên đỏ bừng mặt, có nước tích tụ trong ngũ tạng làm to bụng, chữa các bệnh về tim. Chiết xuất chất Neriolin từ Trúc Đào là một loại thuốc trợ tim có hiệu quả nhanh chóng so với các loại trợ tim cổ điển khác.
Trúc Đào, còn được gọi là đào lê, laurier rose, có tên khoa học là Neriumoleander ; thuộc họ Trúc Đào Apocunaceae. Người ta gọi tên đó vì có lá giống trúc và hoa giống hoa đào.

Đặc điểm hình thái Cây Trúc Đào

Là một loài cây cỡ nhỏ, có thể cao tới 4-5m, mọc riêng lẻ hay từng bụi, cành mềm dẻo. Lá mọc đối hay mọc vòng từng lá 3 một, thuộc loại lá lớn, mép nguyên, cuống ngắn, phiến lá hình mác, dài 7-20cm, rộng từ 1-4cm, dai cứng, mặt trên màu xanh thẫm, mặt dưới màu nhạt hơn, gân đều, song song ngang hai bên gân chính. Hoa màu hồng hay trắng, mọc thành xim ngù ở đầu cành. Quả gồm hai đại, gầy, trong chứa nhiều hạt có lông.
Cây Trúc Đào mọc hoang ở vùng ven biển Địa Trung Hải, sau di thực vào Việt Nam, có nơi trồng làm cảnh.

Chất Neriolin

Trong lá Trúc Đào có bốn loại glucozit: oleandrin(neriloin hay folinerin), neriin, neriantin và adynerin.
Neriolin có công thức nguyên là C32H48O9, trọng lượng phân tử là 576,70 là một glucozit không màu, có tinh thể hình kim, vị rất đắng. Độ chảy 245-250oC. Ít tan trong nước và benzene, tan trong chlorofoc, cồn etylic, metylic, nhưng độ tan trong rượu metylic kém hơn trong etylic. Cho phản ứng legal và keller-kiliani.

Cách dùng Neriolin cho  trợ tim

Neriolin được dùng dưới hình thức rượu và thuốc viên. Dung dịch rượu 1/5.000 chế như sau:
Neriolin 0,2g, cồn 7oC( Đỗ Tất Lợi, Những Cây Thuốc và Vị Thuốc Việt Nam). Đun cách thủy cho đến khi tan hết neriolin. Để nguội, thêm cồn 70oC vào cho đủ 1 lit. Lọc qua giấy. Để vào các lọ màu, mỗi lọ 10-15 hay 20ml. Bảo quản nơi thoáng mát. Mỗi ngày uống 3-4 lần, lần 10(X) giọt.
Viên neriolin: Mỗi viên chưa 0,1 hay 0,2mg. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 viên 0,0001g.
Lưu ý: Neriolin phải được bảo quản theo chế độ thuốc độc bảng A, nhưng dung dịch và viên thuốc thì bảo quản theo bảng B.


Loài Tỏi rừng mới được phát hiện ở Quãng Ngãi thuộc họ Thiên môn (Asparagaceae). Loài mới được đặt tên là Tỏi rừng Averyanov, Aspidistra av...


Loài Tỏi rừng mới được phát hiện ở Quãng Ngãi thuộc họ Thiên môn (Asparagaceae). Loài mới được đặt tên là Tỏi rừng Averyanov, Aspidistra averyanovii N.S. Lý & Tillich, để tôn vinh Giáo sư Leonid Averyanov của Viện Thực vật Komarov ở Nga, ông có nhiều đóng góp trong nghiên cứu họ Thiên môn ở Việt Nam, và loài Tỏi rừng hoa nhỏ.
Chi Tỏi rừng (Aspidistra Ker-Gawler) có trên 150 loài, phân bố ở vùng cận nhiệt đới châu Á. Có ít nhất 52 loài (bao gồm 2 loài mới này) được biết đến ở Việt Nam. Hai loài Tỏi rừng mới này được công bố trên tạp chí chuyên ngành Phytotaxa số 265, năm 2016.

Tỏi rừng Averyanov, Aspidistra averyanovii

Tỏi rừng averyanov, Aspidistra averyanovii N.S. Lý & Tillich, là loài cỏ thân rễ lâu năm.
- Loài Tỏi này cao khoảng 80 cm, thân rễ bò ngang mặt đất, không phân nhánh.
- Lá dạng hình trứng rộng đến hình trứng elip, mang 5–6 cặp gân nổi mặt dưới; cuống lá dài 28–69 cm.
- Phát hoa mọc từ gốc thân rễ, hoa nằm ngang hay hướng xéo lên, có mùi hơi hôi.
- Bình hoa dạng hình chuông, màu trắng xanh đôi khi có màu tía ở nửa trên, dài cỡ 19–22 mm, rộng cỡ 16–16 mm, mang 6 cánh hoa xếp thành trên một vòng 3 cánh hình tam giác, 3 cánh hình trứng, màu trắng xanh bên ngoài, tía bên trong, cỡ 9–13 × 3–4.5 cm.
-Quả dạng hình cầu, đường kính cỡ 1.8–2.2 cm, màu xanh, mặt sần sùi có nhiều mụn hay gai, mang 6 hạt hình nêm.

Tỏi rừng Averyanov có hình dạng hoa giống với các loài A. crassifila, A. clausa và A. tillichiana bởi phần phía trước của các nhị đực nhô ngang gắn gần với vòi nhụy. Tuy nhiên, chúng khác nhau bởi các cánh hoa trên bình của Tỏi rừng averyanov: không có mang phần phụ, nuốm xẻ sâu trong khi cánh hoa các loài A. crassifila, A. clausa và A. tillichiana có phần mang phần phụ, nuốm hình cầu hay hình nón, xẻ cạn. Bầu của loài Tỏi rừng averyanov mang 6 cánh hoa, nuốm dạng đĩa hình khiên khác với bầu mang 8 và 8–12 cánh, nuốm hình cầu hay hình nón ở các loài A. crassifila và A. clausa.
Tỏi rừng Averyanov có cánh hoa thẳng, xếp thành một vòng, bộ nhụy dài bằng bình trong khi loài A. tillichiana  có cánh hoa uống ngược trong hai vòng, bộ nhụy ngắn bình loài. Loài Tỏi averyanov cũng giống với các loài A. bicolor and A. papillata do bầu mang 6 cánh hoa không mang phần phụ, nhưng Tỏi rừng averyanov khác với hai loài sau do có cuống là dài hơn, phiến lá dạng hình trứng rộng đến elip, cuống phát hoa dài hơn, bình hoa lớn hơn có màu trắng xanh.


Tỏi rừng hoa nhỏ, Aspidistra parviflora

Tỏi rừng hoa nhỏ, Aspidistra parviflora N.S. Lý & Tillich, là loài đa niên cao đến 50 cm
- Thân rễ phân nhánh ngang thẳng đứng hay trên mặt đất, mang nhiều rễ nôm cứng.
- Lá dạng hình elip trứng ngược; cuống lá cứng, dài cỡ 6–15 cm.
- Nhiều phát hoa mọc từ gốc, nằm ngang hay hướng xéo lên. Bình dạng hình phễu hẹp, dài cỡ 8–11 mm, rộng cỡ 4–5 mm, màu trắng với đỉnh tía bên ngoài, mang 3–4 cánh hoa hình trứng, màu tía đen, thẳng hay hơi cong ra ngoài.
- Quả dạng hình, đường kính cỡ 8 mm, màu hơi tía hay xanh, có các u lồi dạng hình nón, mang một hạt hình cầu.

Tỏi rừng hoa nhỏ, Aspidistra pariflora N.S. Lý & Tillich có các đặc điểm hình thái và hoa giống với loài A. paucitepala bởi thân rễ phân nhánh và mang rễ nôm, bình hoa dạng hình phễu hẹp hay hình ống, các nhị đực gắn ở giữa của bình hoa, hình dạng và kích thước bao phấn, nhụy cái trắng và bằng với nhị đực. Tuy nhiên loài Tỏi rừng hoa nhỏ có lá dạng hình elip-trứng lớn hơn, bình màu trắng tía bên ngoài tía đen bên trong, cuống hoa dài, cánh hoa cong ra ngoài, nuốm bầu nhụy không lông khác với loài A. paucitepala mang lá nhỏ thuôn, bình hoa trắng cả hai mặt, cuống hoa ngắn và cánh hoa thẳng, nuốm bầu nhụy có lông.

Loài tỏi rừng averyanov được thường tìm thấy ở độ cao từ 130–270 m, trong khi loài Tỏi rừng hoa nhỏ thường mọc ở 380-460 m so với mực nước biển, bên dưới tán rừng thứ sinh cây lá rộng ưu thế cây họ Dầu, tại núi Dầu, tỉnh Quảng Ngãi. Đây là hai loài đặc hữu của hệ thực vật Việt Nam.


Các nhà nghiên cứu cho rằng kháng thể N6 có thể trung lập 98% các chủng virus HIV,  trong đó có 16 trong 20 chủng kháng với các kháng thể kh...



Các nhà nghiên cứu cho rằng kháng thể N6 có thể trung lập 98% các chủng virus HIV,  trong đó có 16 trong 20 chủng kháng với các kháng thể khác của cùng một lớp.
Nghiên cứu kháng thể khác này có thể là chìa khóa hiệu quả trong điều cho hàng triệu người bị nhiễm HIV, và thậm chí một ngày nào đó đây là phương thức cứu chữa căn bệnh HIV.

Một kháng thể tiềm năng

Vi rút suy giảm miễn dịch ở người (HIV) tấn công và làm suy giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể. Hiện tại  không thể chữa được, và nếu không được điều trị, có thể dẫn đến hội chứng suy giảm miễn dịch  (AIDS). Trong khi chúng ta đã đi một chặng đường dài trong việc điều trị HIV, thách thức duy nhất là virus bởi nó tấn công các cấu trúc có nhiệm vụ bảo vệ chúng ta khỏi bệnh tật.

Trong việc tìm kiếm các biện pháp điều trị tốt hơn, các nhà khoa học từ Viện Dị ứng và bệnh truyền nhiễm (NIAID) của NIH của đã tìm cách để chống lại virus sử dụng kháng thể, các protein trong máu của chúng ta có thể xác định các chất lạ và kích hoạt cơ chế chiến đấu của cơ thể. Như đã trình bày trên tạp chí Cell, bây giờ chúng đã xác định được một kháng thể như: N6.

N6 đã được tìm thấy trong máu của một bệnh nhân HIV, và các nhà nghiên cứu cho rằng nó có thể trung hòa 98%  các chủng HIV, trong đó có 16 trong 20 chủng kháng với các kháng thể khác của cùng một lớp như N6. Kháng thể ngăn ngừa truyền nhiễm bằng cách gắn cụ thể vào khu vực lớp vỏ của HIV nhằm ngăn chặn quá trình virus tự gắn vào các tế bào miễn dịch.


Đây cũng tương tự như cách phát hiện trước đây, VRC01, ngăn ngừa truyền nhiễm. Kháng thể đó có thể vô hiệu hóa chỉ có 90 phần trăm của các chủng HIV. Do đó, N6 có thể là biện pháp điều trị mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn. Đồng thời N6 cũng là cách điều trị tốt hơn, ví như nó có khả năng có thể tiêm vào mỡ dưới da thay vì chỉ tiêm tĩnh mạch như VRC01.

Biện pháp chữa bệnh hiệu quả

Khoảng 36,7 triệu người trên thế giới đang sống chung với HIV / AIDS. Phương pháp điều trị hiện tại sử dụng một sự kết hợp của các loại thuốc trong điều trị kháng virus (ARV), nhưng điều này chỉ làm giảm các rủi ro liên quan đến HIV. Độ phủ của các chủng HIV mà N6 có thể xác định và vô hiệu hóa, cùng với hiệu quả tiềm năng của nó, làm cho nó trở thành ứng cử viên tiềm năng trong chữa bệnh HIV.

Tuy nhiên, vẫn cần phải tiến hành nhiều nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng sẽ là cần thiết trước khi sản xuất thuốc cho người nhiễm HIV. Trong khi đó, các nghiên cứu tiếp tục tìm kháng thể trung hòa sẽ vô cùng có giá trị trong việc phát triển vắc-xin và lựa chọn điều trị cho căn bệnh này. Những nghiên cứu như thế này từ NIAID là nguồn hy vọng cho bệnh nhân ở khắp mọi.

Nguồn: SBC Scientific
https://www.sbc-vietnam.com/blog/khang-the-co-the-trung-hoa-98-cac-chung-virus-hiv.aspx

SIGMA ALDRICH là tập đoàn hóa chất nổi tiếng toàn cầu, hiện diện hầu hết ở các Quốc gia. Các thương hiệu khác thuộc tập đoàn này như Supelc...


SIGMA ALDRICH là tập đoàn hóa chất nổi tiếng toàn cầu, hiện diện hầu hết ở các Quốc gia. Các thương hiệu khác thuộc tập đoàn này như Supelco chuyên về dung môi và cột sắc ký, Fluka chuyên về các chất chuẩn,  và còn có thương hiệu Riedel-de Haen. Fluka và Riedel-de Haen nay thuộc về tập đoàn Honeywell, xem thêm thông tin chi tiết tại đây.

Các ngành mà Sigma-Aldrich cung cấp cho thị trường toàn cầu như: Sinh học phân tử, vi sinh, chuẩn dược liệu, nuôi cấy mô thực vật, lĩnh vực sắc ký, nghiên cứu vật liệu, và các loại vật tư tiêu hao thí nghiệm.

Năm 2015, động thái sáp nhập giữa hai tập đoàn lớn là Sigma-Aldrich Mỹ và Merck của Đức cho thấy sự cạnh tranh về giá cả và nguồn nguyên liệu so với sự sáp nhập của Thermo Fisher Scientific với Life Technologies.

Những ưu điểm vượt trội của hãng Sigma Aldrich là gì?

- Có thể nói hãng Sigma Aldrich cung cấp cho thị trường hóa chất dạng cực kỳ tinh khiết, đáp ứng được những thí nghiệm vô cùng khắt khe. Rất nhiều bài nghiên cứu uy tín công bố trên Nature và những trang uy tín khác như Springer.com, sciencedirect.com, các tác giả đều trích nguồn sử dụng hóa chất Sigma Aldrich. Điều đó cho thấy, hãng Sigma Aldrich rất chú trọng tới chất lượng sản phẩm.

- Hàng năm có ngàn sản phẩm mới được cung ứng ra ngoài thị trường, rất đa dạng và phong phú, nhà khoa học có thể lựa chọn chất chuyên biệt cho nghiên cứu của mình.

- Sigma Aldrich đem đến dịch vụ chăm sóc khách hàng tuyệt vời. Khách hàng có thể góp ý về sản phẩm cũng như dịch vụ chăm sóc tại hotline hoặc email góp ý của hãng.

- Đội ngũ đông đảo các nhà khoa học với trình độ Tiến sỹ, Giáo Sư cũng góp sức cho sự thành công của hãng. Chính sự đầu tư dài hạn này đã tạo ra những sản phẩm khác biệt nhất trong thị trường đầy hỗn độn.

Tìm hiểu thêm:
- Giới thiệu về SBC Scientific
- Lịch sử hình thành công ty hoá chât Sigma-Aldrich
- Quá trình sáp nhập giữa Sigma Aldrich và Merck
- Quá trình sáp nhập giữa Fluka và Honeywell
- Chất chuẩn dược liệu Sigma Aldrich

Thông tin liên hệ:
SBC Scientific
Hotline: 0945677929
Email: info@sbcvietnam.com

Cây Sake được trồng phổ biến ở khu vực Thái Bình Dương, thích hợp với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều. Sake thuộc loại cây lương thực, ...



Cây Sake được trồng phổ biến ở khu vực Thái Bình Dương, thích hợp với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều. Sake thuộc loại cây lương thực, sản lượng có thể lên tới 200 quả/ mùa. Trong quả Sake có chứa thành phần tinh bột, khoáng chất và các acid amin thiết yếu.

Hợp chất polyphenol được chiết xuất từ nhiều loại hoa lá, củ quả khác nhau. Cây Sake rất phổ biến, dễ trồng, được nhiều hộ gia đình ở Việt Nam trồng để lấy bóng râm. Công dụng từ lá cây Sake rất lớn như trị tiểu đường, viêm gan, bệnh gút và sỏi thận, đặc biệt hợp chất Polyphenol trong lá rất có lợi cho sức khỏe con người. Với đặc tính chống oxi hóa, chúng có khả năng chuyển các electron trong chuỗi hô hấp bình thường trú ngụ trong ty thể. Chúng có được khả năng đó là do có thể liên kết bền vững với kim loại, do đó làm mất hoạt tính xúc tác của chúng. Đồng thời chúng có khả năng nhận ra gốc tự do và dập tắt quá trình tạo ra các gốc tự do. Polyphenol còn có thể kháng các vi nấm, có khả năng tăng độ đàn hồi và thẩm thấu của vi ti huyết quản, ức chế các tế bào ung thư và sự hấp thụ các tia UV.

Polyphenol là hợp chất chứa nhiều vòng benzen, chứa 1 hoặc nhiều gốc hydroxyl. Dựa vào cấu tạo hóa học ta chia hợp chất polyphenol ra làm 3 nhóm:

Nhóm hợp chất phenol C6-C1: Acid Galic
Nhóm hợp chất phenol C6-C3: Acid Cafeic
Nhóm hợp chất phenol C6-C3-C6: Catechin, Flavonoid

CHIẾT XUẤT POLYPHENOL:

Polyphenol được chiết xuất thành các dạng khác nhau như dạng cao, dung dịch, paste...được bổ sung vào đồ uống.

Nguyên liệu: Lá sake dạng tươi hoặc sấy khô. Thường chọn lá vàng vì có hàm lượng polyphenol cao, ở dạng sấy khô vì giảm được lượng nước có trong nguyên liệu thuận lợi cho việc ly trích sau này.
Trong lá có enzyme gọi là polyphenol oxidase khi bị nghiền hoặc vò nát sẽ bị tiết ra, tiếp xúc với polyphenol làm nhanh chóng xảy ra quá trình oxi hóa, làm thất thoát lượng polyphenol. Do đó, ta phải thực hiện công đoạn làm mất hoạt tính enzyme trước.  Có thể sử dụng phương pháp hấp hơi nước và sấy thùng quay hoặc sao rang.

- Phương pháp hấp hơi nước, lá sau khi đưa vào một thiết bị dạng thùng quay, hơi nước khoảng 100oC được sục vào, và đảo liên tục, quá trình diệt men hoàn toàn sau 2 đến 3 phút. Trong phương pháp này lượng nước được hấp thụ nhiều nên quá trình sấy sẽ kéo dài sau đó.

- Phương pháp sao rang, nguyên liệu được cho vào dụng cụ như chảo và được đảo liên tục, nhiệt độ khoảng 120-140oC. Nguyên liệu được đảo đều sau 4-6 phút. Sau đó là quá trình sấy khô. Phương pháp này có nhược điểm là nhiệt độ quá cao gây ảnh hưởng đến phần tiếp xúc, ảnh hưởng đến sản lượng thu được.

- Ngoài ra ta có thể sử dụng lò vi sóng để diệt men, kết quả khả năng trong thí nghiệm.

Ly trích:
Sau khi diệt men, đem nguyên liệu đi cắt nhỏ để tăng tiết diện tiếp xúc khi ly trích
Quá trình ly trích thường sử dụng các dung môi để hòa tan các chất ly trích, thường là các dung môi phân cực: nước, ethanol, acetone, ethyl acetate. Thường người ta dùng ethanol.

-Nguyên liệu sẽ được ngâm vào dung môi vào thỉnh thoảng đảo trộn nguyên liệu trong bồn ngâm, để ở nhiệt độ phòng.

- Có thể sử dụng phương pháp đun hồi lưu: nguyên liệu và dung môi được chứa trong bể có gắn hệ thống ngưng tụ sau đó đun hồi lưu ở nhiệt độ thích hợp. Sau một thời gian, rút chiết dịch dung môi ra và cho dung mới vào để tiếp tục thu chất cần thiết.

Tinh chế: Lọc cặn trong dịch chiết, thu dịch để chuẩn bị cho quá trình tinh chế. Sau đó ta tiến hành cô đặc bằng cách đun cách thủy ở 70-80oC. Sau đó tiến hành quá trình sử lý acid

- Xử lý bằng acid HCL: nhằm tạo môi trường thích hợp cho polyphenol vì chúng rất bền trong môi trường acid. Đồng thời acid cũng phá các chất không cần thiết như protein, đường, ... với polyphenol để giải phóng polyphenol tự do. Sau đó dịch sẽ được lắng, và ta loại các tủa.

- Dùng Ethyel acetate để tiếp tục tinh chế: chất này sẽ lôi kéo polyphenol có trong dịch, sau khi để lắng ta thu được 2 lớp, lớp dưới là nước, lơp trên gồm ethyl acetate và polyphenol. Dịch này được phân tách, để thu được polyphenol ta đem xử lý nhiệt để thu hồi ethyel acetate và được polyphenol tinh chất.

SBC Scientific tổng hợp